Tôi cũng đi Tây

Dạo đó, chưa có chuyến bay thẳng từ Sài gòn đi Paris. Máy bay phải stop over tại nhiều quốc gia Á và Phi châu để lấy khách, nạp thêm nhiên liệu v.v. Phái đoàn chúng tôi đi Pháp tham dự hội nghị La Francophonie, gồm ba người và ai cũng có chức vụ. Giáo sư Lan trưởng phái đoàn, giáo sư Khải Phó đoàn và tôi giữ nhiệm vụ Thư ký. Tôi sẽ ghi chép tất cả sự kiện trong chuyến đi và viết một bài tường trình nạp cho Bộ Giáo dục, lúc trở về. La Francophonie là tổ chức bao gồm các quốc gia trên thế giới mà đa số dân chúng còn dùng Pháp ngữ. Lúc đó tổ chức này có tên là Organisation Internationale de la Francophonie (OIF).

huy 2  Sau khi ghé qua Thái Lan và Ấn độ, chuyến bay Air France sẽ ghé nhiều nước Phi châu vốn là thuộc địa cũ của Pháp. Trạm dừng lâu nhất khoảng 3 giờ đồng hồ tại Cộng hoà Trung Phi (Central African Republic), để máy bay lấy khách, bôm thêm nhiên liệu và kiểm tra các thông số kỷ thuật. 

Khoảng 4 giờ chiều (giờ địa phương), máy bay đáp xuống phi trường nước Cộng hoà Trung Phi. Chúng tôi được phép rời máy bay vào ngồi chờ tại phi trường và như thường lệ, khách hạng First Class sẽ ưu tiên xuống máy bay trước.

Nhưng thật bất ngờ, từ máy phóng thanh trong tàu, chúng tôi nghe gọi ba tên Việt nam (Monsieurs Tran, Luu, Nguyen) và yêu cầu chúng tôi cầm hánh lý xách tay xuống sân bay trước. Chúng tôi đứng lên còn ngơ ngác, thì người trưởng tiếp viên phi hành đến nói khẻ “Mời ba ông theo tôi, viên chức chính phủ Cộng Hoà Trung Phi cần gặp quý ông”. Cửa máy bay mở ra, chúng tôi nhìn xuống đường băng, đã thấy một đoàn xe đậu sẵn. Vừa đặt chân xuống phi đạo (dạo đó tại các nước đang phát triển, kể cả Việt nam, khách phải xuống phi đạo rồi mới có xe buýt chở vào phi cảng), một viên sĩ quan đen như cột nhà cháy đến chào kính chúng tôi và tự giới thiệu “Tôi là đại tá Mobutu, chánh võ phòng Phủ Tổng Thống xứ Cộng hoà Trung Phi, xin chuyển lời của Tổng Thống Jean Bédel Bokassa mời quý vị đến dinh Tổng thống dùng cơm chiều”.

Giáo sư Lan đáp: Xin ông vui lòng cho biết lý do mà chúng tôi được cái vinh dự này và hơn nữa phi cơ sẽ cất cánh vào lúc bảy giờ tối.
Đại tá Mobutu trả lời: Quý ông là thượng khách của Tổng Thống và tôi xin bảo đảm sẽ đưa quý ông trở lại phi trường trước khi máy bay cất cánh.
Chúng tôi bước lên chiếc Peugeot 404 Sedan màu đen ngồi vào băng sau. Đại tá Mobutu và tài xế ngồi ghế trước. Đoàn xe bốn chiếc với còi hụ, chạy vụt khỏi phi trường. Chúng tôi nhìn nhau ngơ ngác, nửa mừng nửa lo, nhưng không dám hỏi thêm. Thế là chúng tôi đi vào quốc gia Cộng hoà Trung Phi mà chẳng cần trình và đóng dấu passport, visa gì cả.
Chỉ 15 phút sau, đoàn xe về đến dinh Tổng Thống. Chúng tôi được đưa ngay vào đại sảnh, với chiếc bàn dài đã sắp xếp sẵn ly tách muỗng nĩa. Nhân viên lễ tân mời chúng tôi ngồi và đưa cho xem Menu thức uống. Chúng tôi chỉ xin ba ly nước suối Vichy Celestins. Vừa uống ngụm nước mát đầu tiên, thì Đại tá Mobutu và hai ông tai to mặt bự xuất hiện. Đại tá giới thiệu: Đây là Tổng Thống Cộng hoà Trung Phi Jean Bédel Bokassa, và đây là … (Chánh văn phòng Phủ Tổng Thống, lâu ngày tôi quên mất tên). Tổng Thống Bokassa bắt tay, hỏi tên và chức vụ của từng người chúng tôi.
Bồi bếp bắt đầu dọn các món Entrée. Tổng Thống Bokassa mời chúng tôi dùng bửa ngay cho kịp giờ trở lại phi trường, vừa ăn ông vừa nói chuyện.

“Tôi là một sĩ quan trong đội quân Lê dương Pháp quốc. Tôi đến Saigon năm 1950. Lúc đó tôi gặp và yêu một phụ nữ Việt nam tên Nguyen Thi Hue và tôi đã kết hôn với bà Hue. Năm 1952 bà Hue sinh cho tôi một đứa con gái. Năm sau tôi có lệnh trở về Pháp quốc, tôi không mang theo vợ con vì nghĩ rằng chắc chắn tôi sẽ trở lại Sài gòn. Không ngờ với sự thất trận Điện Biên đầu năm 1954, quân đội Pháp rút khỏi Đông Dương. Tôi mất liên lạc với vợ con từ đó.
Hôm nay qua danh sách hành khách do hảng Air France cung cấp, chúng tôi hân hạnh được gặp các ông. Tôi muốn nhờ các ông, khi trở về Việt nam vui lòng điều tra tung tích của vợ con tôi. Mọi chi phí cần thiết đã có tôi lo. Mong các ông nhận lời”.
Giáo sư Lan: Thưa Ngài Tổng thống, sao Ngài không làm việc qua đường lối ngoại giao. Tôi nghĩ rằng chính phủ Việt nam Cộng hoà sẽ sẵn sàng giúp Ngài trong chuyện này.
Tổng thống Bokassa: Không, tôi không muốn làm phiền chính phủ Việt nam. Họ đang quá bận rộn với cuộc chiến bảo vệ đất nước. Hơn nữa, đây là việc cá nhân. Tôi không muốn làm phiền các viên chức chính phủ của hai nước.
Giáo sư Lan: Nếu đã vậy thì chúng tôi xin nhận lời giúp Ngài. Tuy nhiên thành công hay không chúng tôi không dám hứa. Tôi có nhiều bạn bè trong báo giới và truyền thông. Ngài có cho phép chúng tôi đưa các chi tiết cá nhân của Ngài, của bà Hue ra công chúng hay không?.
Tổng thống Bokassa: Dỉ nhiên các ông toàn quyền sử dụng các chi tiết cá nhân cho công cuộc tìm kiếm. Tôi không phản đối. Để tôi bảo ông Chánh văn phòng viết một văn thư ủy quyền cho quý ông trong việc này.

Cuối bửa tiệc, Tổng thống Bokassa trao cho giáo sư Lan một ủy nhiệm thư và nói “Tôi cám ơn quý ông đã hứa giúp tôi. Dù thành công hay không, trong tương lai, nếu có dịp đi ngang qua đây, xin mời quý ông cứ báo cho tôi biết. Chúng tôi sẽ đón tiếp quý ông như là thượng khách. Riêng hôm nay, tôi xin được tặng quý ông mỗi người một món quà”.
Viên Chánh văn phòng phủ Tổng thống trao cho ông Bokassa ba cái hộp nhỏ hình chữ nhật, ông ta trao lại cho từng người chúng tôi.
Giáo sư Lan đứng lên nói lời cảm ơn và từ biệt. Rồi bất ngờ, giáo sư hỏi: Thưa ngài Tổng thống, tôi có một nhu cầu nhỏ bé, không biết ngài có vui lòng chấp thuận hay không?.
Tổng thống Bokassa: Xin ông cứ nói. Việc gì làm được là tôi sẵn sàng.
Giáo sư Lan: Thưa ngài Tổng thống, tôi chỉ xin ngài cho tôi một cái muỗng cà phê trên bàn tiệc này.
Tổng thống Bokassa cười to và hỏi: Sẵn sàng, nhưng để làm gì vậy?.
Giáo sư Lan: Thưa ngài, từ khi còn là sinh viên du học tại Paris vào đầu thập niên 1950, tôi đã có cái thú sưu tầm muỗng cà phê. Tôi có hầu hết muỗng của các quán cà phê nổi tiếng ở Paris, cũng như của các hảng hàng không có đường bay qua Sài gòn (xem truyện: Những cái muỗng).
Tổng thống Bokassa: À ra thế, thôi được, để tôi gởi tặng quý ông mỗi người một cái.
Chúng tôi nhận thêm quà, mỗi người một cái muỗng cà phê của tổng thống Bokassa (sau này về Saigon, tôi mới biết nó bằng vàng 18). Xe còi hụ lại đưa chúng tôi trở ra phi trường để kịp chuyến bay cất cánh lúc 7 giờ tối.

huy 3 Sau bốn ngày tham dự hội nghị La Francophonie, phái đoàn chúng tôi được ông Bộ trưởng Giáo dục Pháp cấp xe cho đi thăm viếng một “xã Việt nam” tại làng Alsace, tỉnh Strasbourg, cách Paris 530km, nằm gần biên giới nước Đức. Đến đó chúng tôi mới biết, trong thế chiến thứ hai, một số lính Khố đỏ người Việt nam được Pháp tuyển mộ để chiến đấu bảo vệ nước Pháp chống lại sự xâm lăng của khối Trục (gồm Đức, Ý và Nhật). Những người này bị Đức bắt làm tù binh, và được giải thoát khi Đức đầu hàng Đồng Minh vào tháng 5 năm 1945. Sau khi được tự do, hơn 100 người không muốn trở về Việt nam, và đã xin định cư tại ngôi làng Alsace của Pháp nằm gần biên giới Đức. Khi xe chúng tôi đến đó, người Việt nam trong làng đều mặc Âu phục chỉnh tề đứng hai bên đường chào đón. Vị đại diện làng mời chúng tôi đến “phòng họp làng” hay “nhà hội làng” (la salle communautaire) cùng với cả trăm đồng hương người Việt. Theo tâm sự của ông đại diện, thì nhóm lính khố đỏ này đã sinh sống ở đây từ năm 1945, lấy vợ đầm và sinh con đẻ cái. Thế hệ thứ hai hoàn toàn không nói được tiếng Việt.  Chúng tôi là thượng khách của nhóm người Việt tha hương. Về đời sống vật chất, họ không phải lo lắng. Sau khi được giải thoát khỏi trại giam tù binh của Đức, họ được phục hồi chức vụ (quân nhân Pháp) và sau khi trở về đời sống dân sự nếu bị thất nghiệp, họ được lãnh trợ cấp cựu quân nhân. Nhưng về đời sống tinh thần thì thật là thảm hại. Họ nhớ quê hương da diết. Họ không có sách báo Việt, thức ăn Việt. Họ hoàn toàn bị tách rời khỏi quê cha đất tổ từ ngày lên tàu sang Pháp cho đến nay đã 30 năm. Chúng tôi ở lại Alsace một đêm. Tối đó các ông Việt nam trong làng đều bỏ vợ con, đến “nhà hội làng” ở với chúng tôi. Họ bắt chúng tôi kể chuyện Việt nam, bất cứ chuyện gì, kể cả chuyện cổ tích. Cuối cùng, ông trưởng làng đã yêu cầu giáo sư Lan đọc truyện Kiều cho họ nghe và giáo sư Lan đã đọc thuộc lòng tập thơ Đoạn trường tân thanh gồm 3254 câu. Thật là cảm động, khi vừa nghe giáo sư Lan ngâm hai câu thơ đầu: ”Trăm năm trong cõi người ta, Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau”  tức thì cả trăm ông Việt nam khóc oà lên. Ngày hôm sau, chúng tôi rời làng Việt nam tại Alsace để trở về Paris, trong niềm thương mến quyến luyến của hơn 100 ông cựu lính Khố đỏ

.Danh Penang WP (Chụp chung với các phái đoàn Senegal, Miên, Lào v.v. Tác giả đứng thứ ba từ trái qua).

Advertisements

One thought on “Tôi cũng đi Tây

  1. Rat thu vi doc xong hai bai Cha toi di Tay va Toi cung di Tay…Hoan ho y kien cua anh Danh, do la lieu thuoc tinh than cho the he chung ta. Khong biet roi toi co tham gia duoc khong. Than ai. Hanh Den.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s