Tướng Hưng và tôi

General Le van Hung Sau Tết Mậu Thân 1968, tôi được thuyên chuyển về Trung đoàn 31 Bộ Binh đóng ở tỉnh Chương Thiện. Lúc đó ông Lê văn Hưng là Trung Tá Trung đoàn trưởng. Trung đoàn đang hành quân tại mật khu Đầu Sấu. Quá giang trực thăng phát lương, tôi theo vị sĩ quan tài chánh ra mặt trận, trình diện các cấp chỉ huy.
Tôi được giao ngay chức vụ Trung đội trưởng, thay thế một sĩ quan khoá đàn anh, vừa bị thương. Trung đoàn đang tấn công vào Đầu Sấu, nơi mà theo tin tình báo là cơ sở hậu cần và kho vũ khí của địch.
Sau nhiều ngày ác chiến với nhiều tổn thất, mà chưa chọc thủng hàng phòng thủ, Trung Tá Hưng xin tăng viện. Một tiểu đoàn Biệt động và một tiểu đoàn Thuỷ quân lục chiến đổ vào chiến trường. Với năm tiểu đoàn trong tay, ông Hưng đã thanh toán mục tiêu trong vòng một tuần lễ.Khi dọn dẹp chiến trường, Tiểu đoàn 2 mang tên “Sấu Thần” khám phá ra một kho vũ khí khổng lồ của VC với đủ loại vũ khí còn nằm trong bọc nylon, như AK47, K54, đại liên 7 ly 62, súng cối 82 sản xuất từ Nga, Trung cộng.
Xin nói thêm về khẩu súng ngắn K54. Lúc đó tất cả sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hoà (VNCH) đều được trang bị khẩu Colt45 của Mỹ vừa to vừa nặng (hơn 1kg). Khẩu Colt chỉ xứng hợp với bàn tay của người Âu châu, do đó sĩ quan VNCH đều đeo cho có vị (được cấp phát mà không đeo thì lại sợ mất). Trái lại khẩu K54 sản xuất tại Trung cộng vừa nhỏ vừa nhẹ (chỉ hơn 800grs) rất vừa vặn bàn tay của người Á châu. Sau khi tịch thu được kho vũ khí này, Trung Tá Hưng đã tặng cho tất cả các sĩ quan cố vấn Mỹ và sĩ quan VNCH có tham dự cuộc hành quân, mỗi người một khẩu K54 để làm kỷ niệm.

Trong trận đánh này, Tiểu đoàn 2 Sấu Thần là đơn vị đầu tiên chọc thủng hàng phòng thủ của địch và khám phá ra kho vũ khí, nên đã được Tổng Thống Hoa kỳ trao tặng huy chương “đơn vị anh hùng và dũng cảm” (Presidential Unit Citation). Cho đến nay, tôi vẫn còn giữ huy chương này, còn khẩu K54 tôi đã ném xuống cống, vào trưa ngày 30 tháng Tư năm 1975.
Sau trận Đầu Sấu, tôi đổi về đại đội Trinh Sát 31, đi sát với bộ chỉ huy Trung đoàn, do đó cũng có vài kỷ niệm với Đại tá Lê văn Hưng (vừa mới lên chức). Ông Hưng xuất thân khóa 5 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Ðức. Sau khi ra trường, ông đã có một thời gian dài chiến đấu tại chiến trường Miền Tây qua các chức vụ chỉ huy từ cấp Đại Đội, Tiểu Đoàn, Trung Đoàn thuộc Sư Đoàn 21 Bộ Binh (BB).

Năm 1966, ở cấp Thiếu Tá, ông là Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 2 (Sấu Thần) thuộc Trung Đoàn 31 BB. Ông được các phóng viên chiến trường vinh danh là một trong Ngũ hổ U Minh Thượng (Tiểu Đoàn Trưởng Lê Văn Hưng, 4 sĩ Quan khác là: Thiếu Tá Lưu Trọng Kiệt, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 42 BÐQ; Thiếu Tá Nguyễn Văn Huy, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 44 BÐQ, Đại Úy Vương Văn Trổ, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 3/33BB; Đại Úy Hồ Ngọc Cẩn, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 1/33BB).

Ông Hưng đẹp trai, có số đào hoa. Tôi được biết, ông có một người con gái tên Lê ánh Tuyết với người vợ đầu tiên kết hôn năm 1951, sau đó ông bà ly dị đường ai nấy đi. Lúc chỉ huy đơn vị ở Chương Thiện, ông đang sống chính thức với bà vợ tên là Phạm thị Kim Hoàng. Ông Hưng là một sĩ quan dũng cảm, biết thương và lo cho thuộc cấp. Tại mặt trận, khi có bất cứ một sĩ quan hay binh sĩ dưới quyền tử trận, bằng bất cứ giá nào, ông Hưng cũng phải lấy cho được xác của tử sĩ đem về cho gia đình. Việc làm này khiến cho nhiều binh sĩ cảm kích và an tâm chiến đấu mà không sợ chết mất xác.

Năm 1969 theo cấp số mới, mỗi đại đội Trinh sát Bộ binh phải có 3 toán Viễn Thám. Ông Hưng chọn lựa 3 sĩ quan giỏi về hành quân và hoạ đồ, trong đó có tôi, để gởi đi học khoá Viễn Thám tại Trung tâm Huấn luyện Biệt động quân Dục Mỹ (Nha Trang).
Trong quân lực VNCH, nói về Bộ binh thì ai cũng sợ đi học khoá Rừng Núi Sình Lầy (RNSL). Tất cả sinh viên sĩ quan Võ bị Đà lạt, trước khi tốt nghiệp ra trường, đều phải trải qua một khoá RNSL. Nhưng so với khoá Viễn Thám (VT) thì RNSL còn dưới một bực. Ai đã tốt nghiệp khoá VT thì miễn, khỏi phải học khoá RNSL, trái lại người đã có bằng RNSL vẫn phải học khoá VT, nếu nhu cầu đòi hỏi.

Sau khi tốt nghiệp khoá VT tại quân trường Biệt động quân Dục Mỹ, chúng tôi trở về đơn vị, thành lập ba toán Viễn Thám. Ông Hưng tung chúng tôi ra chiến trường để trắc nghiệm khả năng. Nhiệm vụ các toán VT thường là khám phá các đường xâm nhập của Việt Cộng từ Căm-pu-chia qua, nhảy xuống vùng B52 đã bỏ bom để kiểm chứng kết quả, thâm nhập các mật khu để tìm kho vũ khí, điểm tập trung quân v.v. chấm toạ độ xong rút ra, báo cáo về Trung tâm Hành quân, để pháo binh hay không quân làm việc.

Tại núi rừng Dục Mỹ Nha Trang nói riêng và ở miền Trung nói chung, khi rời trực thăng nhảy xuống đất, chúng tôi xác định được ngay toạ độ điểm đứng, nhờ vào các đỉnh núi cao có tên trong bản đồ. Sau đó dù có di chuyển nhiều ngày trong rừng rậm, việc chấm toạ độ rất dễ, nhờ vào các ngọn núi cao. Trái lại, khi lội trong các rừng tràm ở Rạch Giá, Cà Mau, Chương Thiện v.v. bên dưới nước ngập đến đầu gối, bên trên là rừng tràm giăng mắc thiên la địa võng, xác định toạ độ là một việc làm bất khả thi, vì rừng tràm không có núi. Trực thăng chỉ huy phải ném trái khói để chúng tôi nương theo đó mà định toạ độ. Việc ném trái khói làm mất tính bảo mật của cuộc hành quân Viễn Thám.
Điều này cho thấy mỗi chiến trường có một chiến thuật, chiến lược hành quân khác nhau. Không thể đem kinh nghiệm và điều học hỏi ở núi rừng miền Trung áp dụng cho chiến trường trong Nam. Tuy biết vậy, nhưng mỗi khi chúng tôi lội bì bõm bên dưới rừng tràm và gọi máy truyền tin xin thả khói màu, ông Hưng ngồi trên trực thăng chỉ huy, vẫn mắng mỏ đàn em không tiếc lời.

Cuối năm 1969, trong khi Trung đoàn 31 đang hành quân ở Rạch Giá, tôi nhận được lệnh biệt phái trở về Bộ Giáo dục. Lúc đó, Bộ chỉ huy Trung đoàn đang đóng tại sân bay Lạc Hồng. Khi công điện biệt phái gởi đến Trung đoàn, Đại tá Lê văn Hưng cho gọi tôi lên trình diện và bảo “ Thôi toa ở lại Bộ chỉ huy, chờ có trực thăng trở về căn cứ ”.
Tôi cảm động về cách đối xử đầy tình cảm của một cấp chỉ huy biết lo cho an nguy thuộc cấp. Thay vì cứ để tôi đi hành quân, cho đến khi nào Trung đoàn trở về hậu cứ Chương Thiện, lúc đó sẽ cấp giấy trả tôi về Trung tâm Quản trị Trung ương tại Sài gòn. Đại tá Hưng đã lo cho sinh mạng của tôi, bảo tôi ngưng đi hành quân, ở lại với Bộ chỉ huy hành quân đóng tại phi trường. Nơi đó, ngày đêm tôi chỉ phụ giúp các công việc vẽ và dán bản đồ hành quân.

Một hôm, có trực thăng chở sĩ quan tài chánh và tiền mặt, từ Chưong Thiện đến Kiên Giang, để phát lương cho binh sĩ. Đại tá Hưng bảo tôi quá giang trực thăng trở về hậu cứ, làm thủ tục về Sài gòn trình diện. Ông ôn tồn dặn dò:
“Toa lên trực thăng nhớ đừng ngồi bẹp xuống sàn. Năm ngoái, thiếu úy Minh cũng được biệt phái như toa, ngồi trên trực thăng trở về hậu cứ, bị đạn AK từ dưới đất bắn lên xuyên thủng sàn máy bay. Viên đạn nằm trong đốt cuối của xương sống không thể mổ được. Minh bị tê liệt tứ chi và tàn phế suốt đời. Nhớ để cái nón sắt trên sàn trực thăng và ngồi lên đó”.
Tôi cảm động trước lời dặn dò cuối cùng của một người anh cả, lúc nào cũng lo lắng cho sự an toàn của đàn em. Tôi chỉ biết chúc ông được an lành trong quân ngũ và sớm thăng quan tiến chức. Đó là lần gặp mặt cuối cùng giữa ông Lê văn Hưng và tôi, vì ông đã oanh liệt tuẫn tiết trong ngày miền Nam thất thủ, cùng với các vị tướng Nguyễn Khoa Nam, Lê Nguyên Vỹ, Phạm văn Phú và Trần văn Hai.
Tướng Hưng đã tự sát vào tối ngày 30.04.1975 tại văn phòng riêng ở Bộ Chỉ Huy Quân Đoàn 4, sau khi nói lời từ giã với gia đình và bắt tay từ biệt tất cả quân sĩ bảo vệ Bộ Chỉ Huy. Sau đó, ông đã quay vào văn phòng, khóa chặt cửa và tự sát bằng súng lục vào lúc 8 giờ 45 phút tối. Theo lời bà Hoàng (phu nhân tướng Lê văn Hưng) kể lại, tướng Hưng đã nói lời cuối cùng với sĩ quan và binh sĩ dưới quyền như sau: Tôi bằng lòng chọn cái chết.Tướng mà không giữ được nước, không bảo vệ được thành, thì phải chết theo thành, theo nước, chớ không thể bỏ dân, bỏ nước, trốn chạy, cầu an. Tôi chết rồi, các anh hãy về với gia đình, vợ con. Nhớ rõ lời tôi căn dặn: Ðừng bao giờ để bị Cộng Sản tập trung các anh, dù tập trung dưới bất cứ hình thức nào. Tôi có lời chào vĩnh biệt các anh.”

Anh hùng tử, nhưng khí hùng nào tử. Xin thắp một nén hương lòng cho hương hồn Chuẩn tướng Lê văn Hưng “anh hùng An Lộc”, người anh cả của Trung đoàn 31 trong những năm 1968-1969 mà tôi được hân hạnh phục vụ dưới quyền.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s